Tu Dien Vdict 

Tra theo từ điển:


 Tin mới nhất 
Bé 2 tuổi bị bệnh tim bẩm sinh hiếm gặp
NEM giảm giá các sản phẩm mới
Phương Thanh diện váy xanh, hát bốc lửa
Bệnh da khi trời lạnh
Những thắc mắc về thuốc tránh thai
Kiêu sa với Sơn collection
Văn Quyến trở lại tuyển
Cách pha sữa cho con đảm bảo chất dinh dưỡng
Làm sao "chống" tiểu đêm?
Những vấn đề thường gặp về hấp thu ở trẻ nhỏ
8 dấu hiệu ung thư hàng đầu
Tiết canh, bánh mì hè phố nhiễm khuẩn đường ruột
Vitamin D2 hay D3 tốt hơn?
Cảm nhận vẻ đẹp của kim cương Lucky Star
Kết quả chia bảng Champions League 2010/2011: Oan gia ngõ hẹp
Tin tức » Dược lâm sàng 05.09.2010 16:34
Kháng Sinh Dự Phòng trong Phẫu Thuật
22.07.2010 07:50

Nhiễm trùng do phẫu thuật đứng thứ hai trong các bệnh nhiễm trùng liên hệ với điều trị (healthcare-associated infection). Coi là nhiễm trùng do phẫu thuật khi xảy ra trong 30 ngày sau phẫu thuật không đặt dụng cụ cấy ghép (implant) hoặc trong 1 năm nếu có đặt dụng cụ cấy ghép. Vi trùng sẵn có ở da hay niêm mạc gây nhiễm ở da, ở tạng phủ hay ở xoang khi rào cản bảo vệ bị gián đọan do phẫu thuật hay thủ thuật.

Ngăn ngừa nhiễm trùng là điều kiện cần thiết để phẫu thuật đạt kết quả và bao gồm nhiều mặt trong tổ chức và điều hành bệnh viện từ trang bị, huấn luyện, kiểm nhiễm đến áp dụng kỹ thuật vô trùng. Kháng sinh dự phòng là một trong các biện pháp kể trên. Nghiên cứu cho thấy rằng nếu áp dụng đúng, kháng sinh dự phòng có hiệu quả và an toàn.

Có chỉ định dùng kháng sinh dự phòng trong các trường hợp nguy cơ bị nhiễm cao. Nguy cơ nhiễm trùng tùy thuộc vào tình trạng của bệnh nhân và đặc tính của phẫu thuật. Các yếu tố liên hệ với tình trạng của bệnh nhân gồm: đã có sẵn một ổ nhiễm, tiểu đường, hút thuốc lá, đang điều trị bằng steroid, mập, cực kỳ lớn tuổi, thiếu dinh dưỡng. Các nguy cơ liên hệ với phẫu thụât được xếp thành 4 loại.
Lọai 1 – Phẫu thuật sạch: đường mổ không đi qua mô bị viêm, không liên hệ đến đường hô hấp, tiêu hóa, tiết niệu và sinh dục.
Lọai 2 – Phẫu thuật sạch-nhiễm: đường mổ đi qua đường hô hấp, tiêu hóa, tiết niệu sinh dục trong tình trạng được kiểm soát và không có viêm nhiễm bất thường. Loại này gồm các phẫu thuật liên hệ đến đường mật, ruột thừa, âm đạo, hầu-họng không bị nhiễm trùng.
Lọai 3 – Phẫu thuật nhiễm: xoa bóp tim sau khi mở lồng ngực, thủng ống tiêu hóa, đường mổ đi qua vùng viêm.
Loại 4 – Phẫu thuật bẩn: vết thương cũ có mô hoại tử, hoặc nhiễm trùng do thủng tạng rỗng, vi trùng gây nhiễm hậu phẫu đã có mặt trước cuộc mổ.

Kháng sinh dự phòng chủ yếu là một sự điều trị ngắn hạn bắt đầu ngay trước phẫu thuật, là một biện pháp trợ giúp trong thời điểm đặc biệt để giảm bớt khối lượng vi trùng xâm nhiễm trong thời gian phẫu thuật. Kháng sinh dự phòng không nhằm mục đích vô trùng các mô và không ngăn ngừa nhiễm trùng do mắc phải trong thời gian sau phẫu thuật.
Để đạt hiệu quả tối đa, cần tuân theo 4 nguyên tắc sau đây:
• Dùng kháng sinh dự phòng trong các phẫu thuật mà các nghiên cứu lâm sàng đã chứng tỏ rằng kháng sinh dự phòng giảm nhiễm trùng hoặc biến chứng nhiễm trùng có thể là một tai họa.
• Chọn loại kháng sinh an toàn, không đắt tiền, có tác dụng diệt khuẩn và bao gồm những vi trùng có nhiều khả năng gây nhiễm nhất.
• Ấn định thời điểm bắt đầu tiêm liều kháng sinh đầu tiên để nồng độ diệt khuẩn đạt mức cao nhất ở mô và trong huyết thanh vào lúc bắt đầu rạch da.
• Duy trì nồng độ kháng sinh trong huyết thanh và ở mô trong suốt cuộc mổ cho đến một vài giờ sau khi may da.

Phẫu thuật viên ước lượng trước đường mổ. Có chỉ định dùng kháng sinh dự phòng trong các phẫu thuật liên hệ đến tạng rỗng. Một số phẫu thuật sạch-nhiễm như cắt ruột già không khẩn cấp cần được “chuẩn bị ruột già” bằng rửa ruôt và uống kháng sinh không hấp thụ bằng đường ruột một ngày trước mổ.
Đôi khi cũng cần dùng kháng sinh dự phòng trong các phẫu thuật mà đường mổ đi qua mô lành không đi qua tạng rỗng và không đi qua vùng nhiễm (loại 1) như đặt khớp giả và trong bất cứ phẫu thuật nào mà biến chứng nhiễm trùng do phẫu thuật có thể trở thành một tai họa như trong các cuộc mổ tim, đặt máy tạo nhịp, giải phẫu động mạch và giải phẫu thần kinh. Theo định nghĩa, không coi là điều trị dự phòng trong các cuộc mổ loại 4 vì trong các trường hợp này bệnh nhân đã được điều trị kháng sinh để ổn định tình trạng nhiễm trùng trước mổ.

Các kháng sinh thuộc nhóm cephalosporin đã được nghiên cứu sâu rộng nhất. Các thuốc này hữu hiệu đối với nhiều vi trùng gram dương và gram âm, tỏ ra an toàn, có dược động lực thích hợp và giá thành rẻ. Cefazolin đã được dùng rộng rãi và được coi là kháng sinh dự phòng hàng đầu trong các phẫu thuật sạch. Nếu bệnh nhân bị dị ứng với beta lactam, có thể thay thế bằng clindamycin hoặc vancomycin để ngừa vi trùng gram dương. Đối với các phẫu thuật đường tiêu hóa cần dùng cefoxitin (hoặc một cephalosporin thế hệ thứ 2) để ngừa vi trùng kỵ khí. Nếu bệnh nhân dị ứng với beta lactam có thể chọn aztreonam kết hợp với clindamycin hoặc metronidazole.
Aminoglycosides không phải là kháng sinh hàng sinh hàng đầu để dự phòng. Cần dùng vancomycin khi có nguy cơ nhiễm tụ cầu kháng methicillin (MRSA), không nên dùng vancomycin trong mọi trường hợp.
Các kháng sinh được dùng nhiều nhất để dự phòng (như cephalosporin) có tác dụng diệt khuẩn tùy thụôc vào thời gian. Tác dụng dự phòng đạt mức tối đa khi nồng độ kháng sinh trong máu luôn luôn vượt quá ngưỡng của nồng độ diệt khuẩn tối thiểu đối với vi trùng. Khi phẫu thuật kéo dài quá mức điều trị của kháng sinh, cần tiêm thêm một liều kế tiếp. Thời gian để tiêm liều kế tiếp đối với cefazolin là 3 đến 4 giờ. Có thể ước tính thời gian để tiêm liều thứ hai (hoặc thứ ba) của kháng sinh dự phòng dựa vào 3 yếu tố: nồng độ kháng sinh ở mô đạt được ở một người bình thường, thời gian bán hủy của thuốc, và nồng độ diệt khuẩn tối thiểu MIC90 của vi trùng mà ta muốn dự phòng. Thí dụ cần tiêm tĩnh mạch 1-2 g cefazolin 30 phút trước khi rạch da. Có ngoại lệ trong trường hợp mổ bắt con mà cần kháng sinh dự phòng: cần tiêm liều đầu tiên ngay sau khi cột dây rốn. Nếu dùng vancomycin, cần tiêm tĩnh mạch 1 giờ trước phẫu thuật. Nói chung kháng sinh dự phòng phải được tiêm tĩnh mạch trong vòng 1 giờ trước phẫu thuật và phải chấm dứt trong vòng 24 giờ sau phẫu thuật.
Sai lầm rong việc chọn lựa kháng sinh và liều lượng cũng như thời gian sử dụng còn nhiều. Trong số 34.133 bệnh nhân được phẫu thuật ở Hoa kỳ, chỉ có 56% được tiêm kháng sinh 1 giờ trước mổ và 41% được ngưng kháng sinh 24 giờ sau mổ. Tiêm quá sớm hay quá trễ không đạt yêu cầu, tiếp tục kháng sinh sau 24 giờ tăng nguy cơ kháng thuốc.
Điều trị kháng sinh dự phòng phải đi cùng với một kế hoạch kiểm tra nhiễm trùng trong bệnh viện. Nghiện cứu cho thấy một kế hoạch kiểm tra nhiễm trùng hữu hiệu giảm tỉ lệ nhiễm trùng phẫu thuật 41% đối với bệnh nhân có nguy cơ nhiễm thấp và 35% đối với bệnh nhân có nguy cơ hiễm cao. Thêm vào đó, kiểm tra nhiễm trùng tích cực và báo cáo tỉ lệ nhiễm trùng phẫu thuật định kỳ cho từng phẫu thuật viên, từng khu vực điều trị và cho ban giám đốc góp phần làm giảm dần tỉ lệ nhiễm trùng trong bệnh viện.

Phụ Bản
Chọn lựa Kháng Sinh Dự Phòng

Phẫu Thuật Vi trùng thường gặp Kháng sinh Liều trước PT
Tim Mạch Staphylococcus aureus,
S. epidermidis
cefazolin hoặc vancomycin

1-2 g TM
1 g TM

Tiêu Hoá      
Thực quản, dạ dầy, tá tràng

trực trùng G âm
cấu trùng G dương

có nguy cơ cao:
cefazolin
1-2 g TM
Đường mật trực trùng G âm
Enterococci, clostridia
có nguy cơ cao:
cefazolin
1-2 g TM
Đại tràng,
Trực tràng
trực trùng G âm
enterococci, Anaerobes
cefotetan
hoặc cefoxitin
hoặc cefazolin
+ metronidazole
hoặc AMP-sulb
1-2 g TM
1-2 g TM
1-2 g TM
0.5-1 gTM
3 g TM
Cắt RTV
Chưa bể
như trên cefoxitin, hoặc
cefotetan
hoặc cefazolin
+ metronidazole
1-2 g TM
1-2 g TM
1-2 g TM
0.5-1 g TM
Thủng tạng rỗng như trên cefoxitin
hoặc cefotetan
+ gentamycin
1-2 g TM
1-2 g TM
1.5 mg/kg TM
Tiết niệu
sinh dục
trực trùng G âm
enterococci
nguy cơ cao:
ciprofloxacin
500 mg (u) hoặc
400 mg TM
Sản Phụ      
Cắt tử cung trực trùng G âm
Kỵ khí, B strep,
Enterococci
cefotetan
cefoxitin
AMP-sulb
1-2 g TM
1-2 g TM
3 g TM
Mổ bắt con như trên cefazolin 1-2 g TM
Phá thai như trên 3 tháng đầu: PNC G
3 tháng giữa: cefazolin
2 triệu dv TM
1-2 g TM
Đầu-Cổ      
Mổ qua miệng họng kỵ khí, TT G âm,
S. aureus
clindamycin +
gentamycin
hoặc cefozolin
600-900 mg
1.5 mg TM
1-2 g TM

Tài liệu tham khảo: Guideline for Prevention of surgical Site Infection, 1999.
A.J. Mangram et al., The Hospital Infection Control Practices Advisory Committee.
www.cdc.gov/hicpac/pubs.html. Các tác giả của tài liệu này không giữ bản quyền.

Bác sĩ Nguyễn Văn Đích



(Theo yduocngaynay.com)



 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email


Những bản tin khác:
TÌM HIỂU VITAMIN D [21.08.2010 06:34]
NGỘ ĐỘC ACETAMINOPHEN [28.07.2010 10:31]
Thời Sự Y Học [07.07.2010 09:50]



Lên đầu trang

Thời gian mở trang: 0.305 giây. Số lần truy cập CSDL: 9


 Đăng nhập/Đăng ký 
Bí danh
Mật khẩu
Ghi nhớ

 Cắm ghép răng 
 Thành viên có mặt 
 Khách: 003
 Thành viên: 000
 Tổng cộng 003
 Hits 001660171

 Websites có ích 

 Liên kết site 

 Liên kết-Quảng cáo 

www.nihbt.org.vn


Cảnh toàn Computer


Sức khỏe vị thành niên


Bệnh tim mạch


Bệnh lao


Sở khoa học công nghệ


angiang.gov.vn


moh.gov.vn


www.vnn.vn


Tự diển thuốc


Cục quản lý dược

 Thư viện bệnh viện 
  Ứng phó với AIDS trong thời điểm quyết định
  Ảnh Hưởng của sự Tiếp Xúc với Các Dung Môi Hữu Cơ trong Không Khí
  Bệnh Cúm- tài liệu tham khảo
  Bệnh tả CHOLERA
  Chỉ thị của Bộ Y Tế về CNTT- 2009
  NHỮNG HƯỚNG DẪN THỰC TẾ LÂM SÀNG ĐIỀU TRỊ VIÊM GAN SIÊU VI B MẠN
  Phát đồ điều trị Sốt Xuất Huyết BYT Ban hành mới (2009)
  PHÁC ĐỒ THỰC HÀNH SƠ CẤP CỨU-THEO DÕI-CHẤN THƯƠNG SỌ NÃO.
  Các bài viết chuyên đề về nghiên cứu y khoa - TS Nguyễn Ngọc Rạng
  Thống kê y tế thế giới năm 2008
  HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ PEGYLATED INTERFERON ALFA
  Khám Phá Di Thể Bệnh Động Kinh (Epilepsy)
  Phản ứng chuỗi polymerase
  VÉN MÀN BÍ MẬT KÍCH HOẠT PROTEIN TỬ THẦN CÓ THỂ
  Terminology-Guidelines -UNAIDS (HIV)